Lịch sử hình thành và phát triển Toyota Camry

 

 

Lịch sử hình thành và phát triển của mẫu xe sang trọng Toyota Camry

 

 

Toyota Camry là một trong những dòng xe biểu tượng cho sự thành công, thành đạt và được rất nhiều doanh nhân lựa chọn làm phương tiện di chuyển chính của mình. Toyota Camry là một mác xe hạng trung, được sản xuất bởi nhà máy Toyota Georgetown (Kentucky, Mỹ). Camry được biết đến là một mác xe nổi tiếng, nó bán rất chạy ở Mỹ trong suốt nhiều năm. Mỹ là thị trường lớn nhất của Camry, cũng là nơi gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ như Honda Accord, Mazda 6, Nissan Altima. Ngoài ra, Camry còn bán rất chạy ở Australia và vài thị khác ở châu Á, cá biệt có Campuchia khi phần lớn ôtô ở đây là Camry. Nó đã không bán chạy ở châu Âu và Nhật Bản vì bị đánh giá là thiết kế không phù hợp với hai thị trường này. Ở Nhật Bản và châu Á, đối thủ chính của Camry là Nissan Teana và Honda Accord. Một nhãn hiệu sang trọng nâng cấp từ Camry được bán dưới cái tên Lexus ES ở thị trường Mỹ, và được biết đến như một hãng ôtô đến từ Nhật Bản. Tuy nhiên khi nhắc về lịch sử của dòng xe này rất ít người có thể biết được. Có một điều thú vị là chiếc xe đầu tiên của dòng Camry lại không mang cái tên này. Lịch sử của nó khởi đầu với Toyota Celica.

 

Thế hệ đầu tiên với tên gọi Toyota Celica (1979-1982)

Sự thành công của Camry cho đến ngày hôm nay được bắt đầu vào tháng 12/1979 khi thế hệ đầu tiên của Camry chính thức được ra mắt tại nhà máy Toyota Tsutsumi, Aichi, Nhật Bản với tên gọi Toyota Celica sau đó một năm mẫu xe này mới chính thức được chào bán tại các cửa hàng bán lẻ Corolla của Nhật. Lối thiết kế của Toyota Celica tương đối “vừa mắt” hơn mẫu Corolla Altis nên rất được người Nhật yêu thích và sử dụng trong thời kỳ đó. Vào tháng 1/1980, cái tên Camry mới được giới thiệu để chỉ phiên bản xe 4 cửa thuộc thế hệ thứ 2 của Celica. Tuy nhiên chiếc xe này chỉ giống Celica về chi tiết máy móc, thậm chí thân xe cũng vay mượn từ Carina. Do đó, Celica chỉ được xem như người tiền nhiệm của dây chuyền sản xuất xe Toyota Camry. Dòng xe chính thức ra đời vào tháng 3/1982, khi tung ra thiết kế riêng với khuôn mẫu động cơ trước-cầu trước.

 

Tên gọi Toyota Camry chính thức được sử dụng vào năm 1983, khi hãng xe tung ra một phiên bản độc lập với một vài thay đổi nhỏ. Phiên bản 1.8GL (ảnh trên) với thân xe theo kiểu 4 cửa truyền thống, sau thời gian ra mắt cách đó không lâu, các chuyên gia bắt đầu dành tặng cho Camry những lời khen vô cùng tích cực. Đầu năm 1984, mẫu động cơ Diesel 1.8L 1C-TL trang bị Turbo được tung ra để bổ sung cho dòng sản phẩm. Mặc dù được đánh giá cao khi kết hợp giữa vận hành, độ bền và tính kinh tế, doanh thu vẫn không như mong đợi. Lúc này doanh số Camry chỉ ở mức vô cùng khiêm tốn trên thị trường.

 

Để khắc phục điều này, Toyota đã đưa ra một quyết định bất thường khi đưa Camry lên phân khúc cao hơn bằng cách tập trung vào công suất và cấu hình xe. Động cơ 1.8L được thay thế bằng động cơ 2.0L 2S-EL phun xăng điện tử hiện đại, công suất 107 mã lực và một phiên bản khác có mức công suất cao hơn 14%, momen xoắn khỏe hơn 13% và thời gian từ 0-60km/h nhanh hơn 0.5s. Cả 2 phiên bản Diesel đều được trang bị hộp số sàn 5 cấp tiêu chuẩn trong khi mẫu chạy xăng lắp hộp số 3 cấp tự động. Sau khi nâng cấp, với mức giá vô cùng hợp lý, Toyota Camry dần được thị trường quốc tế chấp nhận.

 

Vào tháng 11/1984, thị trường Anh quốc tăng trưởng mạnh với thế hệ xe cao cấp (ảnh dưới). Về mặt kĩ thuật, chiếc xe này giống hệt mẫu Camry GLi chạy xăng, bổ sung thêm chức năng rửa đèn xe, thừa hưởng hệ thống điều hòa của Celica Supra, giá chỉ từ 9000 bảng Anh, hiếm có chiếc xe nào đánh bại chiếc xe ở mức giá như vậy. Những nỗ lực cải thiện chất lượng và giá trị của mẫu xe nổi tiếng mang thương hiệu Toyota này cuối cùng đã được công nhận khắp thế giới. Chỉ riêng năm 1985 đã có tổng cộng 252,950 chiếc Camry xuất xưởng ở Nhật Bản và một nửa trong số đó đã nhắm đến một thị trường đang mở rộng mạnh mẽ – Hoa Kì.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 02 (1987-1990)

Bước sang giai đoạn 1987, Toyota tiếp tục nâng cấp dòng xe tiềm năng này để mở rộng thị trường sang Bắc Mỹ. Thế hệ thứ 2 của Camry đến Anh Quốc vào tháng 1/1987 với những thay đổi gần như hoàn toàn để đáp ứng nhu cầu bùng nổ vào những năm 90s. Những chiếc xe này có giá từ 10,390 – 11,900 bảng Anh (giá xe chỉ tăng từ 1300 – 3000 bảng Anh). Dài hơn và rộng hơn các thiết kế trước đây, tuy nhiên vẫn giữ nguyên chiều dài cơ sở. những thay đổi ở thân xe cho thấy Toyota đã có sự quan tâm đáng kể đến thiết kế khí động học, làm chiếc xe có độ cản gió thấp, chỉ 0.35 Cd. Chiếc xe được thiết kế bóng bẩy, với những góc cạnh được bo tròn, rất hài hòa với phần thân mà ít ảnh hưởng đến sự ổn định của xe. Lần đầu tiên dòng Camry có một mẫu có khả năng mở rộng thể tích cốp xe. Về không gian, Toyota mở rộng khoang hành khách về phía trước một chút và tăng thêm khoảng cách từ bánh xe đến đầu và đuôi xe. Từ đó cho phép Toyota có thể tận dụng tốt hơn cách bố trí theo hệ truyền động bánh trước. Do đó, cốp xe mở rộng hơn 8% trong khi không cần phải hy sinh không gian của khoang hành khách.

 

Với thị trường Anh quốc, Toyota trở về với thiết kế động cơ ban đầu, dung tích 2.5L, chạy xăng, cam kép, 4 van mỗi xi-lanh với 2 lựa chọn: số tay 5 cấp hoặc số tự động 4 cấp. Là nhà sản xuất động cơ đa van lớn và nhiều kinh nghiệm nhất thời bấy giờ, Toyota tận dụng khả năng chuyên môn của mình để tạo nên động cơ 4 van đầu tiên được tinh chỉnh tăng tối đa momen xoắn thay vì công suất. Tuy nhiên, dù đã dự tính trước, mẫu động cơ S mới vẫn tạo nhiều công suất và cải thiện khả năng lái tại dải vòng tua lớn hơn mẫu 2S-EL cũ. Mẫu Camry GLi đạt tốc độ tối đa 200km/h cũng như lên 96km trong 9.2s, và xe chạy cũng khá tiết kiệm, 7.84L/100km trong nội ô và 4.9L/100km khi duy trì ổn định ở tốc độ 90km/h. Mức cấu hình rất phong phú. Cả hai dòng GLi và Gli cao cấp đều có tính năng cửa sổ trời chỉnh điện lớn hơn 10% so với tiêu chuẩn thông thường. Dòng cao cấp còn tạo sự khác biệt với điều hòa nhiệt độ, ga tự động và mâm xe hợp kim.

 

Ban đầu Toyota chỉ ước tính doanh số mỗi năm sẽ đạt khoảng 3500 chiếc Camry thế hệ thứ 2 nhưng một bất ngờ đã đến: có tới 4117 đơn đặt hàng, chỉ riêng tại thị trường Anh quốc. Thừa thắng xông lên, Toyota tiếp tục “tạo sóng” với mẫu Camry 2 cầu vào tháng 3/1988. Ra mắt cùng ngày với Celica ST165, Toyota dự đoán mẫu Camry mới này (mức giá 16,695 bảng Anh) sẽ chiếm 10% doanh số dòng xe. Với vẻ ngoài hoàn toàn giống phiên bản cao cấp, bản 2 cầu khác biệt với huy hiệu trên lưới tản nhiệt và nắp khoang hành lí, và khoảng cách 2 bánh sau hẹp hơn 10 mm. Bên dưới, động cơ 3S-FE sử dụng cơ chế truyền động tương tự ST165, với hộp số, bộ vi sai trung tâm và cò chuyển số mang đến cho chiếc xe cơ chế lái 2 cầu toàn thời gian mà không ảnh hưởng đến không gian nội thất (hình trên). Bộ khớp thủy lực (ảnh dưới) trong bộ vi sai trung tâm chia momen xoắn giữa 2 trục bánh trước-sau theo tỉ lệ 50/50.

 

Trong giai đoạn sau này, doanh số Camry vẫn đều đặn 3500 chiếc/ năm. Tính đến tháng 3/1989, doanh số đã lập kỉ lục với 7,773 chiếc ở thị trường Anh quốc, khi Toyota đã thêm thắt một vài chi tiết phức tạp để cho ra đời mẫu xe hạng cao cấp trong phân khúc.

 

Mẫu Camry V6 GXi (ảnh trên) là chiếc xe đầu tiên trên thế giới có cấu tạo động cơ V6 với 4 trục cam, 24 van, truyền động bánh trước. Động cơ mới 2VZ-FE 2.5L tạo ra công suất 158 mã lực và chỉ “cặp” với hộp số 4 cấp tự động điện tử A540E. Đây là mẫu xe thứ 3 của Toyota lắp đặt bộ lọc khí thải (2 chiếc còn lại là Celica GT-4 và Supra Turbo), do đó chỉ chạy với nhiên liệu không chì. Toyota đã thành công khi tạo ra sự khác biệt với các hãng xe khác ở Anh quốc. Vào cuối năm 1990, tổng cộng đã có 2,175,270 chiếc xe Toyota Camry được sản xuất ở 2 địa điểm: nhà máy Tsutsumi của Toyota và nhà máy mới Kentucky ở Hoa Kì. Trong số xe được sản xuất, đã có 240,901 chiếc cung ứng cho thị trường châu Âu từ năm 1983.

 

Toyota Camry đột phá tại thế hệ thứ 03 (1991-1995)

Mẫu Camry thế hệ thứ 3 ra mắt thị trường Anh quốc vào tháng 10/1991. Đây là một chiếc xe “lột xác” hoàn toàn, không có bất cứ bộ phần nào thừa hưởng từ mẫu trước. Trừ chiều cao thì chiếc xe được mở rộng về mọi mặt, thân xe và khoang động cơ rộng hơn được thiết kế đặc biệt cho thị trường nước ngoài. Nói cách khác, đây không phải là một phiên bản được “Tây hóa” của mẫu xe ở thị trường Nhật Bản. Camry đã được lắp đặt 2 loại động cơ 2.2L 4 xi-lanh (5S-FE) với 134 mã lực hoặc động cơ V6 3.0L (3VZ-FE) 185 mã lực. Giá giao động từ 17,519 bảng đối với mẫu 2.2GL số sàn đến 22,325 bảng đối với mẫu V6 số tự động.

 

Ngược lại với phong cách 2 khoang (tính chung khoang hành khách – hành lí) từ phiên bản trước, Camry mới có tổng thể thuôn dài, rộng phần trung tâm để nhấn mạnh trọng tâm xe đặt thấp. Kiểu dáng mượt mà đã giảm mức cản gió xuống còn 0.31 Cd. Trong khi đó, không gian của khoang hành khách và hành lý được mở rộng và tư thế ngồi được cải thiện đáng kể khi đặt bảng điều khiển điều hòa và âm thanh gần ghế lái hơn.

 

Tháng 7/1992, dòng Camry có thêm một mẫu xe đẳng cấp nữa. Đó là mẫu xe dành riêng cho thị trường Hoa Kì và cũng là mẫu duy nhất Toyota thiết kế theo phong cách Mỹ với ghế lái nằm bên phải. Được thiết kế theo kiểu xe 7 chỗ, mẫu xe cao cấp này có 2 ghế ngồi sau có thể gập lại khi không sử dụng. Khi đó khoang hành lí mở rộng thể tích lên đến 843 lít. Một tính năng nổi bật khác của chiếc xe là gạt nước sau thiết kế dạng kép. Camry tiếp tục được công nhận như là tiêu chuẩn của ngành cũng như giá trị tốt nhất xét về giá cả. Một mẫu xe công ty ra đời, nhấn mạnh đến giá bán lẻ hơn loại xe gắn động cơ 2.2L dành riêng cho người dùng doanh nhân. Tuy nhiên, thị trường xe cao cấp có dấu hiệu chững lại, doanh thu Camry cũng tương tự. Cho đến năm 1995, doanh số tụt giảm xuống còn 735 chiếc mỗi năm.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 04 (1996-2001)

Thay vì nhấn mạnh vào sự sang trọng, Toyota quyết định làm nổi bật giá trị “đáng đồng tiền bát gạo” của chiếc xe khi cho ra đời thế hệ thứ 4 vào tháng 11/1996. Người mua Camry tiết kiệm được hàng ngàn bảng Anh so với đối thủ nếu xét về cấu hình xe, trong khi tiết kiệm đang là xu hướng thời bấy giờ thì Camry định vị là chiếc xe rẻ nhất trong phân khúc nếu tính về chi phí vận hành. Cách tiếp cận này được kì vọng sẽ hồi sinh chiếc xe, phản ảnh qua sự tăng trưởng doanh số lên 1750 chiếc vào năm 1997.

 

Lần thay đổi này, Toyota muốn nhắm đến đối tượng khách hàng là những khách hàng trẻ trung, năng động, Camry 1996 được vuốt nhẹ phần đầu xe để tăng phần kiểu cách và giúp xe trông linh hoạt hơn, kích thước tổng thể của xe được mở rộng, dài hơn, rộng hơn và cao hơn một chút so với mẫu cũ, trong khi chiều dài cơ sở được mở rộng thêm 50 mm nhằm tăng không gian nội thất bên trong. Đáng kể nhất là khung gầm xe đã được thay đổi để thích nghi với nhiều loại đường xá.

 

Mẫu xe có 2 lựa chọn: động cơ 2.2L 4 xi lanh (5S-FE) hoặc động cơ V6 3.0L (1MZ-FE) cải thiện đáng kể công suất và momen xoắn cực đại (188 mã lực tại 5,400 vòng/ phút và 273 Nm tại 4,400 vòng/ phút). Động cơ V6 cũng tích hợp tính năng thông gió vào hệ thống phun nhiên liệu, giúp tách nhỏ hỗn hợp nhiên liệu trước khi đánh lửa, giúp giảm ô nhiễm và cải thiện mức tiêu hao nhiên liệu. Trong khi V6 là mẫu chú trọng đến sức mạnh thì phiên bản Thể thao của mẫu xe 2.2L được đánh giá cao về thiết kế khi xuất xưởng vào tháng 1/1997. Được Toyota thiết kế riêng cho thị trường Anh quốc, chiếc xe nổi bật với lazang hợp kim 17 inch, bộ treo thấp hơn 20 mm và thân xe dập theo phong cách thể thao cũng như nội thất da. Phiên bản này về sau còn được mở rộng thêm tùy chọn động cơ 3.0L.

 

Vào tháng 12/1999, Toyota đã có một vài thay đổi ngoại thất nhỏ cho mẫu năm 2000. Cản trước được bo tròn, đèn sương mù trước được mở rộng, thiết kế lại lưới tản nhiệt cũng như cụm đèn trước với 4 bóng halogen thay vì 2 như bản cũ (ảnh dưới). Dải crom và bánh xe mới lắp đặt cho mẫu 2.2L đã làm nổi bật phần hông xe trong khi cản sau được thiết kế mới, cụm đèn sau hài hòa làm đuôi xe trông mềm mại hơn. Những bổ sung này trở thành tiêu chuẩn của dòng xe và giá được điều chỉnh lại, ở mức 20,180 bảng Anh. Trong những năm sau đó, nhiều khách hàng đã nhận thức được giá trị của Camry, nhưng chính thị trường Hoa Kì mới là dấu ấn của chiếc xe. Vào năm 1997, dòng xe đã tự định vị là mẫu xe bán chạy nhất quốc gia này với doanh số đều đặn 400,000 chiếc mỗi năm.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 05 (2001-2006)

Một mẫu xe hoàn toàn mới đã cập bến Anh quốc vào tháng 11/2001. So với đối thủ ở châu Âu, đầu tư vào chiếc xe này thật hấp dẫn. Không chỉ bởi thương hiệu Toyota từ lâu đã nổi tiếng về chất lượng mà còn là hiệu ứng từ hàng triệu chiếc xe được bán tại Hoa Kì, mẫu xe mới đã điều chỉnh, mở rộng ngân sách cho nghiên cứu và phát triển. Nói cách khác, khách hàng của thị trường này đang mua những chiếc xe có chất lượng tuyệt vời, cảm giác lái được cân bằng hơn, tiện nghi hơn cũng như cải thiện khả năng vận hành đã khẳng định vị trí dẫn đầu trên thị trường.

 

Thiết kế nhấn mạnh dạng thuôn nhọn về đầu xe một lần nữa là phong cách chủ đạo, với cột A,C dốc mang đến cảm giác như một chiếc xe Coupe, đồng thời thể tích cốp tăng đáng kể (587 lít). Kiểu dáng khí động học giảm đáng kể lực cản của gió, chỉ còn 0.28 Cd. Nội thất cũng được thiết kế mang đến cho hành khách cảm giác chiếc xe khá gọn (compact).

 

Thế hệ thứ 5 của Camry có 2 lựa chọn động cơ, ban đầu là mẫu 2.4L 4 xi-lanh 150 mã lực (2AZ-FE), tận dụng được công nghệ Van biến thiên thời gian thông minh (VVT-i) và động cơ 3.0L 184 mã lực (1MZ-FE) thừa hưởng từ thế hệ trước. 2 mẫu xe có một vài khác biệt về vận hành nhưng đều đáp ứng được tiêu chuẩn khí thải Euro 3, tuy nhiên mẫu 2.4L đã ghi dấu ấn về khả năng tăng tốc cũng như tính tiết kiệm nhiên liệu. Cấp độ trang bị của 2 mẫu đều ngang bằng hoặc vượt hơn kì vọng với phân khúc xe cao cấp. Điều hòa nhiệt độ tùy chỉnh, cửa sổ và gương hậu chỉnh điện, chìa khóa thông minh, kính không đọng nước cũng như ghế trước chỉnh điện. Giá giao động từ 19,495 bảng Anh với mẫu 2.4 GLS VVT-I số sàn và 27,495 bảng Anh với mẫu trang bị động cơ V6 3.0 L CDX số tự động, đầu DVD Sat Nav.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 06 (2006-2011)

Mặc dù có vị thế trong thị trường xe cá nhân và doanh nghiệp, thị trường xe cao cấp gần như mờ nhạt đáng kể ở thị trường Anh quốc. Năm 2004, Toyota quyết định ngừng sản xuất dòng xe này. Tuy nhiên, số phận Camry lại khởi sắc ở Hoa Kì khi là chiếc xe bán chạy nhất trong suốt 12 năm liền (Và cho đến năm 2018 thì mẫu xe này vẫn là chiếc xe sedan bán chạy nhất tại Mỹ). Thế hệ mới của Camry đã phần nào cho thấy sự khác biệt giữa các phiên bản quốc tế và Châu Á, nhân cơ hội được tham gia North American International Auto Show Toyota quyết định cho ra mắt mẫu Toyota Camry phiên bản Hybrid (bảo vệ môi trường) và rất được thị trường quốc tế ưa chuộng.

 

Phiên bản 3.5Q thay thế cho phiên bản 3.0V có giá bán 65.900 USD và phiên bản 2.4G có giá bán 50.600 USD. Phiên bản 2.4 mới có giá bán rẻ hơn 600 USD so với phiên bản 2.4 năm 2006. Riêng phiên bản 3.5Q cao hơn 900 USD nhưng sở hữu động cơ mạnh hơn và mức độ tiện nghi cao cấp hơn. So với phiên bản trước, Toyota Camry thế hệ thứ 6 được nâng cấp bộ đèn pha HID có khả năng mở rộng chiếu sáng, ống xả kép. Nội thất được nâng cấp ghế lái chỉnh điện 8 hướng, lưng ghế sau có thể ngả bằng điện. Vô-lăng được tích hợp điều khiển âm thanh, màn hình đa thông tin trên đồng hồ lái, điều hòa 2 vùng tự động. Đặc biệt, lần đầu tiên Toyota Camry được trang bị chìa khoá thông minh tích hợp điều khiển bằng nút bấm. Tiện ích này tích hợp thêm bộ nhớ vị trí gương chiếu hậu ngoài, ghế ngồi và vô-lăng khi người lái bước vào xe. Phiên bản 3.5Q còn được trang bị tựa tay trung tâm hàng ghế sau có thể điều chỉnh âm thanh và nhiệt độ.

 

Phiên bản 2.4G vẫn tiếp tục trang bị cấu hình vận hành với động cơ xăng 2.4L đi kèm hộp số sàn 5 cấp. Phiên bản 3.5Q được trang bị động cơ xăng 3.5L mới V6, trang bị hệ thống điều phối van biến thiên thông minh kép Dual VVT-i cho công suất tối đa 273,5 mã lực. Đặc biệt, lần đầu tiên ở Việt Nam một mẫu xe Toyota được trang bị hộp số tự động 6 cấp hiện đại.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 7 (2012-2017)

Thế hệ này mang đến không gian rộng rãi hơn, cải thiện khả năng lái linh hoạt cũng như giảm đáng kể tiếng ồn. Ngoài ra Camry 2012 còn là một cuộc cách mạng về giá trị của một chiếc xe xét về tính tiện nghi, hiệu quả, tin cậy và an toàn, đi cùng thiết kế đẹp mắt và khả năng lái linh hoạt. Chiếc xe được kì vọng sẽ tiếp tục giữ vững ưu thế dẫn đầu tại tại thị trường Hoa Kì.

 

Mặc dù càng về sau thị trường xe hơi bắt đầu sôi nổi hơn với sự tham gia của các hãng xe khác nhưng ít có mẫu xe nào liên tục trong 12 năm đều đứng đầu bảng xếp hạng doanh thu như Toyota Camry. Thế hệ cải tiến của Camry sẽ nâng tầm bạn lên thành một ông chủ đích thực tại vị trí ngồi ở hàng ghế sau, tất cả các nút điều chỉnh cơ bản của xe đều được sắp xếp gọn gàng tại vị trí này. Động cơ dùng cho thế hệ mới nhất chính là 2.5L 4 xi lanh, mức tiêu hao nhiên liệu 9,41L/100km khi đi trong nội thành và 6.72L/100km khi di chuyển đường trường.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 7 cải tiến thứ nhất (2012-2014)

Theo sau sự ra mắt thế hệ mới trên toàn cầu vào năm 2012, Toyota Việt Nam cũng nhanh chóng cho ra Camry thế hệ hoàn toàn mới với 3 phiên bản 2.0E, 2.5G và 2.5Q với giá bán từ 982 triệu đồng tới 1.241 triệu đồng. Điểm đặc biệt trên thế hệ mới chính là hệ thống vận hành đã được thay đổi hoàn toàn. Phiên bản 2.0E được trang bị động cơ xăng 2.0L, 4 xi lanh thẳng hàng, tích hợp công nghệ điều phối van thông minh VVT-i cho công suất tối đa 145 mã lực tại 6000 vòng/phút, mô-men xoắn cực địa 190Nm tại 4000 vòng/phút. Đi kèm là hộp số tự động 4 cấp.

 

Phiên bản 2.5G và 2.5Q trang bị động cơ xăng 2.5L, 4 xy lanh thẳng hàng, tích hợp VVT-i kép cho công suất tối đa 178 mã lực tại 6000 vòng/phút và mô-men xoắn cực đại 231Nm tại 4100 vòng/phút. Đi kèm là hộp số tự động 6 cấp.

 

 

Theo công bố của nhà sản xuất, ngoại thất của thế hệ này cũng được điều chỉnh dựa trên 2 yếu tố “Cảm xúc” và “Tính hợp lý”. So với thế hệ trước, Toyota Camry 2012 có dáng vẻ thanh thoát hơn rất nhiều. Ngoại thất không còn các đường bo tròn, cục mịch, thay vào đó là các chi tiết dập nổi tinh tế và sang trọng. Bên trong, các nhà thiết kế Toyota đã sắp xếp mọi thứ hài hòa và cân đối hơn. Xe được trang bị hệ thống giải trí DVD đi kèm màn hình cảm ứng 6.1”, tích hợp kết nối Bluetooth, USB, AUX trên phiên bản 2.5Q. Phiên bản 2.5G và 2.0E chỉ được trang bị đầu CD đi kèm kết nói AUX và USB. Phiên bản cao cấp nhất được trang bị hệ thống điều hòa 3 vùng tự động, trong khi các phiên bản còn lại được trang bị điều hòa 2 vùng độc lập. Các tiện ích khác của phiên bản 2.5Q có thể kể ra như ghế chỉnh điện tích hợp nhớ vị trí, gương chiếu hậu tự động điều chỉnh khi lùi xe, gương chiếu hậu bên trong chống chói tự động và khởi động bằng nút bấm. Cả ba phiên bản đều được trang bị đèn pha HID tự động bật tắt và điều chỉnh góc chiếu sáng.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 7 cải tiến thứ hai (2015-2018)

Giữa năm 2015, Toyota Camry 2016 chính thức ra mắt Việt Nam với 3 phiên bản 2.0E, 2.5G và 2.5Q. Giá bán lần lượt cho cả ba phiên bản tại thời điểm ra mắt là 1,078/1,214/1,359 tỷ đồng. Tuy nhiên bước sang năm 2016, trước sức ép từ các đối thủ, Toyota Việt Nam tiếp tục cải tiến bằng phiên bản 2016 nâng cấp. Cả hai phiên bản này cũng chỉ là phiên bản nâng cấp của thế hệ thân rộng thứ 5 VX50 ra mắt vào năm 2012 tại Việt Nam. Mặc dù vậy, mẫu xe này được cải tiến đáng kể về cả thiết kế cũng như trang bị.

 

Ngoại thất được thiết kế thể thao hơn với hốc hút gió phía trước mở rộng, mang đến dáng vẻ thể thao hơn so với trước. Thiết kế đèn sương mù được tinh giảm kích thước mang đến như Phiên bản 2.0E được nâng cấp la-zăng hợp kim 17-inch mạnh mẽ và cân đối hơn, đồng thời bộ lốp cũng mỏng hơn 215/55R17, mang đến sự sang trọng hơn. Phiên bản cao cấp nhất 2.5Q không có nhiều thay đổi ở chi tiết này. Nội thất Toyota Camry 2016 cũng được nâng cấp đáng kể về mặt trang bị tiện nghi và một số chi tiết nội thất. Tất cả phiên bản đều được trang bị cần số bọc da với chỉ nổi màu đỏ, đồng thời bổ sung thêm các chi tiếtt ốp gỗ bóng và mạ kim loại tinh tế. Phiên bản 2.5Q được nâng cấp đầu DVD với màn hình cảm ứng 7-inch thay thế cho màn hình 6.3” trước kia.

 

Trang bị an toàn phiên bản cấp thấp cũng được nâng cấp với 7 túi khí tương tự phiên bản cao cấp nhất. Tất cả phiên bản đều được nâng cấp ghế lái chỉnh điện 10 hướng, ghế hành khách chỉnh điện 8 hướng. Tính năng vận hành của cả ba phiên bản đều không có nhiều thay đổi. Phiên bản 2.0E vẫn được trang bị động cơ xăng 2.0L. Phiên bản 2.5G và 2.5Q tiếp tục sử dụng động cơ xăng 2.5L. Tất cả phiên bản đều đi kèm hộp số tự động 6 cấp với hệ dẫn động cầu trước. Riêng phiên bản 2.5Q được nâng cấp thêm lẫy chuyển số sau vô-lăng thể thao hơn.

 

Toyota Camry thế hệ thứ 8 – thế hệ mới nhất (2019-nay)

Vào ngày 23/4/2019 Toyota Việt Nam đã chính thức ra mắt Toyota Camry 2019 thế hệ thứ 8. Sự thay đổi đáng chú ý nhất ở thế hệ Camry mới là việc Toyota chuyển từ lắp ráp sang nhập khẩu nguyên chiếc từ Thái Lan. Toyota Camry 2019 được bán ra dưới 2 phiên bản là 2.0G và 2.5Q. Toyota Camry 2019 thuộc thế hệ thứ 8 hoàn toàn mới mang tên mã XV70 được phát triển từ nền tảng khung gầm TNGA, từng được Toyota ứng dụng cho nhiều mẫu xe toàn cầu như Prius hay C-HR. Xe sở hữu ngoại hình theo phong cách trẻ trung, khác hẳn thế hệ cũ.

 

Ở những thế hệ Camry trước đây, Toyota luôn phân biệt rõ các biến thể dành cho mỗi thị trường khác nhau, dẫn đến tình trạng Camry Mỹ khác biệt rất nhiều so với Camry Đông Nam Á, khiến một bộ phận người tiêu dùng Việt phải tìm đến xe nhập Mỹ không chính hãng có giá rất đắt đỏ. Sự phân biệt kể trên sẽ chấm dứt kể từ thế hệ Camry thứ 8 hoàn toàn mới này, đánh dấu bước ngoặt trong chiến lược phát triển của dòng sản phẩm sedan hạng D Toyota, khẳng định vị thế so với các đối thủ. Trên toàn thế giới, Camry XV70 thế hệ mới sẽ giống nhau đến 90%, với những khác biệt chỉ nằm ở một vài trang bị tiện ích cũng như lựa chọn động cơ được điều chỉnh sao cho phù hợp nhất với đặc thù giao thông ở mỗi quốc gia, cũng như khả năng chi trả của người tiêu dùng địa phương. Nói cách khác, mẫu Camry XV70 đến Việt Nam lần này, ra mắt ở Singapore và Thái Lan cách đây vài tháng đều mang ngoại hình y hệt như Camry XV70 từng ra mắt lần đầu ở Mỹ.

 

Camry 2019 tại Việt Nam có bản cấu hình cao cấp nhất là 2.5 Q, trang bị đèn pha LED vuốt nhọn, gọn gàng và dải LED ban ngày xếp chồng, bộ mâm 18 inch với hai ống xả đặt cân đối phía đuôi xe. Bên trong khoang cabin là nội thất sang trọng với da, vật liệu vân gỗ và kim loại để tạo cảm giác cao cấp. Màn hình cảm ứng 8 inch tạo hình kiểu chữ Y với các nút chỉnh bố trí đều hai bên. Cần số trau chuốt hơn với nhiều nút chức năng như phanh tay điện tử, hỗ trợ giữ phanh tự động và ba chế độ lái Eco, Normal, Sport. Trang bị trên Camry mới như xe sang với bệ tì tay phía sau có màn hình cảm ứng chỗi nút điều khiển ghế, radio, âm lượng, rèm che nắng, điều hòa. Xe còn được trang bị HUD (hiển thị thông tin trên kính lái) cùng nhiều công nghệ an toàn khác.

Toyota Camry 2019 2.0G được Toyota Việt Nam phân phối với 7 màu ngoại thất bao gồm : Bạc (1D4), Đen (218), Đen (222), Đỏ (3T3), Nâu (4W9), Ghi (4X7), Trắng Ngọc Trai (089)

 

Bạc (1D4)

Đen (218)

Đỏ (3T3)

Đen (222)

Nâu (4W9)

Ghi (4X7)

Trắng Ngọc Trai (070)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hotline : 094 14 66633
Chat Zalo